Hôm nay3
Tháng này11
Năm này156
Với hệ thống gồm 1.591 cơ sở giáo dục, 25.799 lớp học và 854 trường đạt chuẩn quốc gia, việc triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị tại Lâm Đồng không chỉ là yêu cầu về đổi mới tư duy mà còn đặt ra bài toán lớn về đội ngũ, trường lớp, chất lượng giáo dục và chuyển đổi số. Sau gần một năm thực hiện, nhiều chủ trương đã được cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn của địa phương.
Tạo chuyển biến từ nhận thức đến hành động
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xác định rõ: người học là trung tâm, nhà giáo là động lực, nhà trường là nền tảng; giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc.
Thực hiện Nghị quyết và Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025, ngành Giáo dục Lâm Đồng đã tổ chức nghiên cứu, quán triệt và tuyên truyền đến các phòng chuyên môn, cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên trong toàn ngành.
Nội dung Nghị quyết được lồng ghép trong các hội nghị, cuộc họp, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt chuyên môn, hoạt động giáo dục và hệ thống truyền thông của ngành. Qua đó, nhận thức về yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục tiếp tục được nâng lên; từng bước chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị phát triển, lấy chất lượng, hiệu quả, sự công bằng và sự tiến bộ của người học làm thước đo.

Với quy mô 1.591 cơ sở giáo dục và 25.799 lớp học, gồm 23.412 lớp công lập và 2.387 lớp ngoài công lập, việc tạo được sự thống nhất trong nhận thức và hành động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là cơ sở để các chủ trương lớn của Đảng được chuyển hóa thành nhiệm vụ cụ thể tại từng địa phương, từng cơ sở giáo dục và từng lớp học.
Hình thành hệ thống chính sách đồng bộ
Một trong những kết quả nổi bật là việc từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo, chương trình và kế hoạch triển khai Nghị quyết trên địa bàn tỉnh.
Ngày 24/12/2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng ban hành Chương trình hành động số 08-CTr/TU thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW. Tiếp đó, ngày 24/2/2026, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 2292/KH-UBND, xác định cụ thể các nhiệm vụ, tiến độ và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.
Từ định hướng chung, ít nhất 6 kế hoạch chuyên đề quan trọng đã được ban hành, tập trung vào những lĩnh vực then chốt của giáo dục địa phương.
Trong đó có Kế hoạch số 482/KH-UBND ngày 12/1/2026 về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; Kế hoạch số 2281/KH-UBND ngày 24/2/2026 về tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025-2035, định hướng đến năm 2045; Kế hoạch số 3269/KH-UBND ngày 15/3/2026 về truyền thông Nghị quyết số 71-NQ/TW.
Ngày 22/4/2026, UBND tỉnh tiếp tục ban hành 3 kế hoạch quan trọng gồm: xây dựng trường công lập đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035; đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; hỗ trợ phát triển giáo dục mầm non vùng khó khăn giai đoạn 2026-2030.
Việc ban hành đồng bộ các kế hoạch cho thấy Nghị quyết không dừng lại ở định hướng chính trị mà đã được cụ thể hóa bằng mục tiêu, nhiệm vụ và lộ trình thực hiện.
Đầu tư trường lớp gắn với bảo đảm công bằng giáo dục
Lâm Đồng là địa phương có địa bàn rộng, điều kiện kinh tế - xã hội giữa các khu vực chưa đồng đều. Vì vậy, phát triển mạng lưới trường lớp và bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục cho mọi người học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
Năm học 2025-2026, các xã, phường, đặc khu quản lý 525 cơ sở giáo dục mầm non với 6.023 lớp; 563 cơ sở giáo dục tiểu học với 10.403 lớp và 365 trường trung học cơ sở với 6.238 lớp. Sở Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 122 cơ sở giáo dục phổ thông với 2.876 lớp, 13 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên với 254 lớp, 2 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập và 1 trường tình thương.
Toàn tỉnh hiện có 854 trường đạt chuẩn quốc gia. Kết quả này tạo nền tảng quan trọng để tỉnh tiếp tục thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng trường học trong giai đoạn 2026-2030.
Tuy nhiên, cơ sở vật chất tại một số xã, phường, nhất là vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn thiếu hoặc xuống cấp. Một số cơ sở giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về phòng học, phòng chức năng, nhà vệ sinh, nước sạch và thiết bị dạy học.
Trước thực tế đó, ngành Giáo dục tiếp tục rà soát, sắp xếp mạng lưới trường lớp theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với quy mô dân số, địa bàn dân cư và điều kiện giao thông; đồng thời ưu tiên đầu tư cho địa bàn khó khăn, cơ sở chưa bảo đảm điều kiện dạy học và các trường nằm trong lộ trình đạt chuẩn quốc gia.
Việc xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới cũng được xác định là nhiệm vụ cần tập trung đẩy nhanh, góp phần bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại những địa bàn đặc thù.
Nhà giáo là động lực của đổi mới
Cùng với cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Ngành Giáo dục Lâm Đồng đang tiếp tục rà soát số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ; xác định nhu cầu tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với từng cấp học, môn học, địa bàn.
Công tác bồi dưỡng không chỉ tập trung vào chuyên môn, nghiệp vụ mà còn hướng đến nâng cao năng lực quản trị, năng lực số, khả năng ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong giáo dục.
Dù vậy, tình trạng thiếu, thừa giáo viên cục bộ vẫn xảy ra tại một số môn học và địa bàn. Cơ cấu đội ngũ giữa các địa phương chưa thật sự đồng đều; năng lực ứng dụng công nghệ số và phương thức giáo dục mới của một bộ phận cán bộ, giáo viên còn hạn chế.
Điều này đòi hỏi các giải pháp về tuyển dụng, bố trí, điều tiết và bồi dưỡng đội ngũ phải được thực hiện đồng bộ. Đặc biệt, cần ưu tiên chính sách thu hút, ổn định đội ngũ giáo viên tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những môn học đang thiếu nhân lực.
Chuyển đổi số mở đường cho quản trị hiện đại
Chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là một trong những trụ cột tạo đột phá cho giáo dục Lâm Đồng.
Ngành Giáo dục đang tăng cường khai thác cơ sở dữ liệu ngành, sử dụng các nền tảng số trong quản lý, dạy học và kiểm tra, đánh giá; từng bước chuyển từ quản lý dựa trên hồ sơ hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu.
Trong bối cảnh toàn ngành có 25.799 lớp học, việc chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả dữ liệu sẽ hỗ trợ đáng kể cho công tác điều hành, dự báo nhu cầu giáo viên, sắp xếp mạng lưới trường lớp, quản lý người học và phân bổ nguồn lực.
Cùng với chuyển đổi số, ngành từng bước triển khai kế hoạch phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục; chú trọng bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh.
Tuy nhiên, khoảng cách về hạ tầng, thiết bị và năng lực sử dụng công nghệ giữa các cơ sở giáo dục vẫn là vấn đề cần giải quyết. Chuyển đổi số chỉ thực sự tạo ra đột phá khi đi cùng với dữ liệu chính xác, hạ tầng đồng bộ và đội ngũ có đủ khả năng vận hành, khai thác.
Tập trung nguồn lực cho những nhiệm vụ cấp thiết
Kết quả bước đầu cho thấy việc triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW tại Lâm Đồng được thực hiện nghiêm túc, đồng bộ và từng bước đi vào chiều sâu. Hệ thống văn bản chỉ đạo cơ bản được hoàn thiện; nhiều nhiệm vụ về đội ngũ, trường chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục mầm non, ngoại ngữ, chuyển đổi số và ứng dụng AI đã được triển khai.
Dẫu vậy, ngành Giáo dục vẫn đứng trước những thách thức lớn: cơ sở vật chất chưa đồng bộ; khoảng cách chất lượng giữa các vùng còn tồn tại; đội ngũ giáo viên thiếu và mất cân đối cục bộ; nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển.
Thời gian tới, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho trường lớp, thiết bị dạy học, trường đạt chuẩn quốc gia và các địa bàn khó khăn; thống nhất danh mục, thứ tự đầu tư giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương; đồng thời tăng cường kiểm tra, theo dõi và đánh giá tiến độ thực hiện.
Từ 1.591 cơ sở giáo dục, 25.799 lớp học đến mục tiêu nâng cao chất lượng của 854 trường đạt chuẩn quốc gia, mỗi con số đều đặt ra yêu cầu về trách nhiệm, nguồn lực và phương thức tổ chức thực hiện. Đưa Nghị quyết 71-NQ/TW vào cuộc sống vì thế không chỉ là hoàn thành các kế hoạch đã đề ra, mà quan trọng hơn là tạo ra những thay đổi thực chất trong từng nhà trường, từng lớp học và sự phát triển của mỗi người học.
Văn phòng Sở Giáo dục và Đào tạo